Ung thư ruột là gì?

Tổng quan ung thư ruột

Ung thư ruột là một thuật ngữ chung cho bệnh ung thư bắt đầu từ ruột già. Tùy thuộc vào nơi ung thư bắt đầu, ung thư ruột đôi khi được gọi là ung thư ruột kết hoặc trực tràng.

Ung thư ruột là một trong những loại ung thư phổ biến nhất được chẩn đoán ở Anh. Hầu hết những người được chẩn đoán mắc bệnh này đều trên 60 tuổi.

Triệu chứng Ung thư ruột

Hơn 90% người mắc ung thư ruột có một trong các triệu chứng sau đây:

  • thay đổi trong thói quen đại tiện – thường xuyên đi phân lỏng và có thể đau bụng cùng lúc
  • Máu trong phân
  • Đau bụng, khó chịu hoặc đầy hơi khi ăn chúng sảy ra liên tục

Trong một số trường hợp, ung thư ruột có thể ngăn chất thải tiêu hóa đi qua ruột. Nó được gọi là tắc ruột. Các triệu chứng của tắc ruột có thể bao gồm:

  • Đau bụng liên tục và dữ dội – luôn sảy ra khi ăn
  • Sụt cân đột ngột – cùng với đó là đau bụng dai dẳng
  • Bụng sưng liên tục – đau bụng
  • Buồn nôn – với sưng bụng liên tục

Nếu nghi ngờ ruột bị tắc ruột hãy nhanh chóng đến gặp bác sĩ để được điều trị

Nguyên nhân Ung thư ruột

Nguyên nhân chính xác của ung thư ruột vẫn chưa được biết. Tuy nhiên, nghiên cứu đã chỉ ra một số yếu tố có thể khiến nó phát triển.

Ung thư xảy ra khi các tế bào trong một khu vực nhất định của cơ thể phân chia và nhân lên nhanh chóng. Điều này tạo ra một khối mô gọi là khối u. Các nguy cơ chính gây ung thư ruột bao gồm:

Tuổi tác

Gần 18 trong số 20 trường hợp ung thư ruột ở Anh được chẩn đoán ở những người trên 60 tuổi.

Tiền sử gia đình

Có tiền sử gia đình mắc bệnh ung thư ruột có thể là mẹ, cha, anh hoặc chị dưới 50 tuổi.

Chế độ ăn

Nhiều bằng chứng cho thấy chế độ ăn nhiều thịt đỏ và thịt chế biến có thể làm tăng nguy cơ phát triển ung thư ruột. Vì vậy một lời khuyên đối với những người ăn hơn 90g ( thịt đã nấu chín) trên một ngày thì nên giảm xuống còn 70g mỗi ngày. Cũng có bằng chứng cho thấy chế độ ăn nhiều chất xơ có thể giúp giảm nguy cơ ung thư ruột.

Hút thuốc

Những người hút thuốc lá có nhiều khả năng phát triển ung thư ruột, cũng như các loại ung thư khác và các tình trạng nghiêm trọng khác, chẳng hạn như  bệnh tim.

Rượu

Uống rượu đã được chứng minh là có liên quan đến tăng nguy cơ ung thư ruột, đặc biệt nếu thường xuyên uống một lượng lớn rượu.

Béo phì

Thừa cân hoặc béo phì có liên quan đến việc tăng nguy cơ ung thư ruột, đặc biệt là ở nam giới. Nếu cơ thể thừa cân hoặc béo phì thì giảm cân có thể giúp giảm cơ hội phát triển bệnh ung thư này.

Không hoạt động

Những người không hoạt động thể chất có nguy cơ mắc ung thư ruột cao hơn. Vì vậy nên thường xuyên hoạt động thể chất mỗi ngày để giảm nguy cơ ruột và các bệnh ung thư khác.

Rối loạn tiêu hóa

Một số điều kiện ảnh hưởng đến ruột có thể khiến nguy cơ mắc ung thư ruột cao hơn. Ví dụ, ung thư ruột xuất hiện phổ biến hơn ở những người bị  viêm loét đại tràng hoặc bệnh Crohn trong hơn 10 năm.

Điều kiện di truyền

Có hai điều kiện di truyền hiếm gặp có thể dẫn đến ung thư ruột:

  • Polyp tuyến thượng thận (FAP) – một điều kiện kích hoạt sự phát triển của polyp không ung thư bên trong ruột.
  • Ung thư đại trực tràng không đa polyp di truyền (HNPCC) , còn được gọi là hội chứng Lynch – một lỗi gen di truyền (đột biến) làm tăng nguy cơ ung thư ruột

Chẩn đoán ung thư ruột

Khi các triệu chứng cho thấy có thể bị ung thư ruột hoặc được chẩn đoán ung thư ruột nhưng không chắc chắn thì soi đại tràng sigma linh hoạt được thực hiện. Mặc khác một số ít người bị bệnh ung thư chỉ có thể được chẩn đoán bằng cách kiểm tra đại tràng bằng cách sử dụng là nội soi đại tràng hoặc chụp cắt lớp vi tính (CT).

Soi đại tràng sigma linh hoạt

Nội soi đại tràng sigma linh hoạt là kiểm trực tràng và ruột già bằng cách sử dụng một thiết bị gọi là soi đại tràng sigma.

Ống soi sigmoid là một ống dài, mỏng, linh hoạt được gắn một máy ảnh rất nhỏ và có ánh sáng. Nó được đưa vào trực tràng và được soi lên ruột.

Máy ảnh chuyển tiếp hình ảnh đến màn hình và đồng thời có thể được sử dụng để lấy sinh thiết đó là lấy một mẫu mô nhỏ để phân tích thêm.

Nội soi đại tràng

Nội soi là một cuộc kiểm tra toàn bộ ruột già bằng cách sử dụng một thiết bị gọi là nội soi

Sau khi được dùng thuốc an thần. Ống nội soi được đưa vào trực tràng và di chuyển dọc theo chiều dài của ruột già. Điều này thường không gây đau đớn, nhưng có thể cảm thấy khó chịu.

Máy ảnh chuyển hình ảnh sang màn hình, cho phép bác sĩ kiểm tra bất kỳ khu vực bất thường nào trong trực tràng hoặc ruột để xác định có phải bệnh ung thư hay không. Giống như nội soi đại tràng sigma, sinh thiết cũng có thể được thực hiện trong cách nội soi này.

Chụp cắt lớp CT

Chụp cắt lớp CT, còn được gọi là “nội soi ảo”, liên quan đến việc sử dụng máy chụp cắt lớp vi tính (CT) để tạo ra hình ảnh ba chiều của ruột già và trực tràng.

Ở cách kiểm tra này, khí được bơm vào ruột bằng một ống mỏng và được đặt trong trực tràng. Sau đó quét CT được thực hiện.

Xét nghiệm này có thể giúp xác định các khu vực có khả năng gây ung thư ở những người không phù hợp với nội soi.

Chụp cắt lớp CT là một xét nghiệm ít xâm lấn hơn so với nội soi, nhưng có thể cần phải nội soi hoặc soi đại tràng sigma linh hoạt ở giai đoạn sau để có thể lấy sinh thiết phục vụ cho việc kiểm tra.

Kiểm tra thêm

Nếu chẩn đoán ung thư ruột được xác định, thường sẽ tiến hành kiểm tra thêm để kiểm tra xem ung thư có lan từ ruột sang các bộ phận khác của cơ thể hay không. Những xét nghiệm này cũng quyết định phương pháp điều trị hiệu quả nhất cho người bị ung thư.

Những xét nghiệm này có thể bao gồm:

  • CT scan bụng và ngực – để kiểm tra xem phần còn lại của ruột có khỏe mạnh hay không và ung thư có di căn đến gan hay phổi không
  • hình ảnh cộng hưởng từ (MRI) quét – giúp cung cấp một hình ảnh chi tiết của các cơ quan xung quanh ở những người bị bệnh ung thư trực tràng

Các giai đoạn của ung thư ruột

Sau khi tất cả các xét nghiệm đã được hoàn thành, thường có thể xác định giai đoạn ung thư.

Có hai loại mô phỏng để xác định giai đoạn ung thư.

Đầu tiên được gọi là hệ thống dàn TNM:

  • T – chỉ kích thước của khối u
  • N – cho biết liệu ung thư đã lan đến các hạch bạch huyết gần đó chưa
  • M – cho biết liệu ung thư đã lan sang các bộ phận khác của cơ thể chưa (di căn)

Ung thư ruột cũng được thể hiện bằng giai đoạn. Bốn giai đoạn chính là:

  • Giai đoạn 1 – ung thư vẫn được ở trong niêm mạc ruột hoặc trực tràng
  • Giai đoạn 2 – ung thư đã lan ra ngoài lớp cơ bao quanh ruột và có thể đã xâm nhập vào bề mặt bao phủ ruột hoặc các cơ quan lân cận
  • Giai đoạn 3 – ung thư đã lan vào các hạch bạch huyết gần đó
  • Giai đoạn 4 – ung thư đã lan ra ngoài ruột vào một bộ phận khác của cơ thể, chẳng hạn như gan

Điều trị ung thư ruột

Điều trị ung thư ruột sẽ phụ thuộc vào vị trí ruột bị ảnh hưởng và ung thư đã lan rộng bao xa.

Phẫu thuật thường là phương pháp điều trị chính cho ung thư ruột và có thể kết hợp với  hóa trị , xạ trị hoặc điều trị sinh học, tùy thuộc vào trường hợp cụ thể.

Nếu nó được phát hiện sớm, điều trị có thể chữa ung thư ruột và ngăn chặn nó quay trở lại. Nhưng đôi khi chữa trị hoàn toàn không phải lúc nào cũng thực hiện được và nguy cơ ung thư có thể tái phát ở giai đoạn sau.

Phẫu thuật ung thư ruột kết

Nếu ung thư ruột kết ở giai đoạn sớm, nó thực hiện bằng cách loại bỏ một mảnh nhỏ ở thành đại tràng

Nếu ung thư lan vào các cơ bao quanh đại tràng, thông thường cần phải cắt bỏ toàn bộ đại tràng, được gọi là cắt bỏ đại tràng.

Có 3 cách để thực hiện cắt bỏ đại tràng:

  • Phẫu thuật mở – phẫu thuật tạo ra một vết cắt lớn (vết mổ) trong bụng và loại bỏ một phần của đại tràng
  • Phẫu thuật nội soi – phẫu thuật tạo ra một số vết mổ nhỏ ở bụng và sử dụng các dụng cụ đặc biệt được hướng dẫn bởi một camera để loại bỏ một phần của đại tràng
  • Phẫu thuật robot – một loại phẫu thuật trong đó dụng cụ phẫu thuật được hướng dẫn bởi robot để loại bỏ ung thư. Trong phẫu thuật robot, bác sĩ phẫu thuật có thể sẽ không ở cùng bệnh viện với bệnh nhân.

Trong quá trình phẫu thuật, các hạch bạch huyết gần đó cũng được loại bỏ. Và hai đầu ruột nối với nhau sau phẫu thuật ung thư ruột, nhưng đôi khi việc này không thể thực hiện và cần có một ống dẫn để nối hai đầu ruột với nhau.

Phẫu thuật mở và nội soi được cho là có hiệu quả như nhau trong việc loại bỏ ung thư. Mặc khác phẫu thuật nội soi và robot có ưu điểm là thời gian phục hồi nhanh hơn và ít đau sau phẫu thuật. Vì vậy Và phẫu thuật nội soi hiện đang trở thành lựa chọn tối ưu của hầu hết các ca phẫu thuật.

Phẫu thuật ung thư trực tràng

Có một số cách phẫu thuật khác nhau có thể được thực hiện để điều trị ung thư trực tràng, tùy thuộc vào mức độ ung thư đã lan rộng.

Cắt bỏ cục bộ

Nếu bị ung thư trực tràng giai đoạn đầu, phẫu thuật loại bỏ nó bằng cách đặt ống nội soi qua đường hậu môn và loại bỏ ung thư khỏi thành trực tràng.

Cắt bỏ toàn bộ

Trong hầu hết các trường hợp, việc cắt bỏ cục bộ là không thể thực hiện. Thay vào đó, một phần lớn của trực tràng sẽ được loại bỏ.

Khu vực này sẽ bao gồm cả mô trực tràng không có tế bào ung thư và mô mỡ từ xung quanh ruột

Loại bỏ mô mỡ từ xung quanh ruột có thể đảm bảo tất cả các tế bào ung thư được loại bỏ, điều này làm giảm nguy cơ ung thư tái phát ở giai đoạn sau.

*Tác dụng phụ của phẫu thuật

Các tác dụng phụ sau phẫu thuật ung thư ruột, bao gồm:

  • Chảy máu
  • Nhiễm trùng
  • Phát triển cục máu đông
  • Vấn đề về tim hoặc hô hấp

Một rủi ro là phần ruột còn lại không lành di bị nhiễm trùng. Nó có thể diễn ra trong vài ngày đầu sau phẫu thuật.

Một nguy cơ khác trong phẫu thuật ung thư trực tràng là các dây thần kinh kiểm soát việc đi tiểu và chức năng tình dục có thể bị ảnh hưởng do các dây thần kinh này nó rất gần với trực tràng.

Sau phẫu thuật ung thư trực tràng, hầu hết mọi người cần đi vệ sinh để thông ruột thường xuyên hơn

Ở một số người, đặc biệt là nam giới đôi khi sẽ có các triệu chứng khác như đau ở vùng chậu và táo bón thường xuyên.

Xạ trị

Một số cách xạ trị có thể được sử dụng để điều trị ung thư ruột:

  • Trước khi phẫu thuật – thu nhỏ ung thư trực tràng nhằm tăng cơ hội loại bỏ hoàn toàn
  • Thay thế phẫu thuật – để chữa trị và ngăn chặn sự lây lan của ung thư trực tràng giai đoạn đầu khi không thể phẫu thuật.
  • Xạ trị giảm nhẹ – để kiểm soát các triệu chứng và làm chậm sự lây lan của ung thư khi đã ở giai đoạn cuối.

Xạ trị trước khi phẫu thuật ung thư trực tràng được thực hiện theo 2 cách:

  • Xạ trị ngoài – sử dụng máy để chiếu các sóng năng lượng cao ở trực tràng để tiêu diệt các tế bào ung thư
  • Xạ trị bên trong – một lượng nhỏ phóng xạ được đưa vào hậu môn và đặt bên cạnh tế bào ung thư để thu nhỏ và tiêu diệt nó.

Xạ trị ngoài thường được thực hiện hàng ngày, 5 ngày một tuần, nghỉ vào cuối tuần.

Tùy thuộc vào kích thước khối u có thể cần 1 đến 5 tuần điều trị. Mỗi đợt xạ trị ngắn và sẽ chỉ kéo dài trong 10 đến 15 phút.

Tác dụng phụ của xạ trị sẽ dần hết khi quá trình xạ trị kết thúc nó bao gồm:

  • Mệt mỏi
  • Bệnh tiêu chảy
  • Nóng rát và kích thích da xung quanh trực tràng và xương chậu
  • Thường xuyên phải đi tiểu
  • Cảm giác nóng rát khi đi tiểu

Tác dụng phụ lâu dài của xạ trị có thể bao gồm:

  • Máu trong nước tiểu và phân
  • Vô sinh
  • Rối loạn cương dương

Nếu bạn muốn có con, có thể lưu trữ một mẫu tinh trùng hoặc trứng trước khi bắt đầu điều trị để đề phòng điều trị sinh sản sau này.

Hóa trị

Có 3 cách  hóa trị được sử dụng để điều trị ung thư ruột:

  • Trước khi phẫu thuật – được sử dụng kết hợp với xạ trị để thu nhỏ khối u
  • Sau phẫu thuật – để giảm nguy cơ ung thư tái phát
  • Hóa trị giảm nhẹ – để làm chậm sự lây lan của ung thư ruột ở giai đoạn cuối và giúp kiểm soát các triệu chứng mà bệnh gây ra.

Hóa trị ung thư ruột thường liên quan đến việc sử dụng kết hợp các loại thuốc tiêu diệt tế bào ung thư. Chúng có thể được dùng dưới dạng viên nén, hóa trị liệu tiêm tĩnh mạch hoặc kết hợp cả hai. Điều trị thường kéo dài 2 đến 3 tuần mỗi lần, tùy thuộc vào giai đoạn hoặc mức độ ung thư.

Tác dụng phụ của hóa trị liệu, những tác dụng phụ sẽ dần dần qua đi khi điều trị của bạn kết thúc, nó bao gồm:

  • Mệt mỏi
  • Buồn nôn
  • Bệnh tiêu chảy
  • Loét miệng
  • Rụng tóc nhưng nó thường không phổ biến trong điều trị ung thư ruột
  • Cảm giác tê, ngứa ran hoặc nóng rát ở tay, chân và cổ

Hóa trị cũng có thể làm suy yếu hệ thống miễn dịch, khiến cơ thể dễ bị nhiễm trùng hơn.

Các loại thuốc được sử dụng trong hóa trị liệu có thể gây ra ảnh hưởng tạm thời cho tinh trùng của nam giới và trứng của phụ nữ. Nó có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe của thai nhi đối với phụ nữ đang mang thai.

Phương pháp điều trị sinh học

Phương pháp điều trị sinh học, bao gồm cetuximab và panitumumab, là những loại thuốc mới hơn còn được gọi là kháng thể đơn dòng.

Chúng nhắm mục tiêu các protein đặc biệt, được gọi là thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR), được tìm thấy trên bề mặt của một số tế bào ung thư. Các EGFR giúp ung thư phát triển, do đó nhắm mục tiêu các protein này có thể giúp thu nhỏ khối u và cải thiện hiệu quả của hóa trị liệu.

Phương pháp điều trị sinh học đôi khi được sử dụng kết hợp với hóa trị liệu khi ung thư đã lan ra ngoài ruột (ung thư ruột di căn).

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *